Mùa mưa đã qua

Trong một thời gian dài, tôi nghĩ nghệ thuật chỉ nên là những thứ rất bình thường, giống như những ngày trong đời, trôi đi, buồn buồn, mờ nhạt. Giấc mơ nằm ở một nơi xa, ngày rồi sẽ đến, nhưng trong lúc đợi chờ, người ta quên mất dần điều mình mơ ước. Sự hiện hữu, giấc mơ, nỗi buồn, tất cả đều nhỏ bé, luôn luôn dường như vừa mất đi, dường như vẫn còn đó.

Xe tôi đi ngang một căn nhà tường đóng ván gỗ, mái tôn xi măng có lượn sóng. Nhà nằm ở một khu đồi thấp, trước nhà có những bụi cây trồng để làm hàng rào, và vì gần đường xe nên lá cây vướng bụi: mùa mưa đã qua rồi. Nhà đóng cửa vì giờ này mọi người đã đi làm rẫy. Căn nhà đổ bóng xuống khoảng sân nhỏ phía sau, có một gian thấp nằm khuất, có lẽ dùng làm bếp. Ngoài bờ rào bên trái, có một đám quần áo đang phơi, vải nhuộm màu tươi, và bây giờ dù đã hơi cũ và nhuốm màu của bụi, chúng vẫn là đám màu sắc rực rỡ duy nhất, vì vườn trước nhà không trồng hoa.

Tôi chụp ảnh căn nhà, và bây giờ càng nhìn lâu, mắt đi theo con đường dẫn vào và đi ngang hông nhà đi ra phía sau, tôi càng thấy buồn. Không có lý do gì, hoặc chỉ vì mùa khô đường có bụi vàng, thế thôi. Tôi muốn đưa ảnh cho ai đó xem và hỏi gọi đây là nghệ thuật có được không, nhưng tôi không biết đưa cho ai. Tôi cũng không biết có cách nào, thu gần và cắt xén sao đó để dẫn mắt người nhìn đến những cuộc đời vừa xảy ra ở đó vừa không xảy ra ở đó, nơi căn nhà này. Nhưng không có cách nào. Và tôi vẫn ở giữa ý định muốn và không muốn, đưa ảnh cho ai đó xem và hỏi: có thấy gì không? 

Không tựa, không kết, như câu chuyện của chúng tôi

Ở nước tôi, dường như người sống luôn luôn có lỗi với người chết, có ai hiểu vì sao? Có thể vì chúng ta thay đổi quá nhiều, mỗi ngày, người ta lại phản bội thêm một bước một quá khứ nào đó, phản bội cái quê hương quá khứ ấy đã mơ ước và chết vì hoặc cho những mơ ước ấy. Trong một bầu trời phủ đầy sương, hư thực, mờ ảo, quá khứ không có cách nào hoàn toàn biết được. Người ta có thể phản bội một điều gì đó mình không biết hay không? Không biết quá khứ, đã là phản bội nó rồi. Biết những đường nét trong sương, nhưng mọi liên quan đã đánh mất, cũng là phản bội. Dù đám sương này, không phải lỗi của chúng ta.

Có khi, một người chẳng làm gì có tội cả, đêm chỉ ngủ trên một cái giường chăn gối êm ấm và có hương thơm - từ người nằm bên cạnh, da thịt của người thân còn sống - là đã có tội với một người thân khác ngủ ở một nơi lạnh hơn, dưới lòng khe, vùi trong đất đá hay trong bùn nước nổi. Người ta đi cầu hồn, âm thầm một mình, nhưng cũng có năm cả nước đi cầu hồn. Người ta muốn như thế nào đó đền đáp cho những người ngủ lạnh, sợ những khúc xương của họ sẽ tan mất trước khi được tìm thấy, sợ trí nhớ mình không đủ dài để giữ những đốt xương ấy trong ký ức, sợ mình quên, và họ sẽ vĩnh viễn là ma không nhà, sự phản bội cuối cùng sẽ thành vĩnh viễn không còn đường trở lại. 

Nhưng không có cách nào đền đáp cả. Nếu có một nhà nước nào đó làm lễ truy điệu, hay một nhà sư nào đó làm lễ cầu siêu cho tất cả những vong hồn, thì vẫn là không cho ai cả. Bởi vì những đốt xương cần được cầm lên như phần còn lại của một cái tên, một con người riêng rẽ đã sống, chứ không phải là một ý niệm vô hình và vô lịch sử trong môt bản anh hùng ca hay thương ca mù mịt.

Rồi những nhà cầu hồn đến, đâu đâu cũng có, họ hứa sẽ chỉ đường cho người ta đi tìm những đốt xương lưu lạc. Tên của người những khúc xương thuộc về được rạch trên những bình nước bằng nhôm sẽ tìm được đâu đó bên cạnh, dưới tám tấc hay là một mét đất. Không biết ai đã đặt tên cho những người đó là nhà ngoại cảm, tôi không bao giở hiểu vì sao lại lấy từ đó, nó nghe có vẻ khoa học, nhưng trừu tượng và trống rỗng. Những nhà ngoại cảm mua những bình đựng nước bằng nhôm, rạch tên người chết vào, họ đúc những khúc xương bằng đất nung hay xi măng, hay mua xương heo nái cho đủ to, phân huỷ một phần trong acid, ngâm bùn, rồi thuê người đem chôn ở một cánh đồng hoang nào đó chừng hai tháng trước ngày họ dẫn người thân đi đào lên, nhặt về chôn lại trong nước mắt, hương khói và sự biết ơn vô bờ bến. Những hài kịch cay đắng nhất là những hài kịch được viết trên cốt truyện của một bi kịch, và bi kịch tệ hại nhất khi nó phải nhờ một hài kịch dẫn đi tiếp khi tự nó không tìm được cho mình được đoạn cuối.

Nhưng vì là kịch, nên có một tấm màn đến một giờ nào đó được kéo lên và đến một giờ nào khác thì được hạ xuống. Dù không ai biết ai là đạo diễn, ai diễn viên và ai là khán gỉả, tất cả đã giữ nghiêm ngặt qui luật của những người ở trong một vở kịch: dù tất cả đã được biết trước, người ta đều sống thật những khoảnh khắc của mỗi phân đoạn của vở kịch như thể nó chính là cuộc đời. Và ai có thể nói nó không phải là cuộc đời?

Nghe Brahms

Tương tư ai đó một chút thì nghe nhạc hay hơn. Mục đích là nghe nhạc chứ không phải yêu. Các bạn của mình cứ nhầm lẫn phương tiện và mục đích, để rồi nhạc thì không nghe chỉ có bị bên địch nó hành hạ khổ thân vì suốt ngày lo yêu nó.

Có một lần nào đó,

Chúng ta không mất bất cứ gì trong một vũ trụ nơi ngay cả một giọt nước cũng không thể mất đi. Cuộc đời, và tình yêu, không bao giờ thay đổi, chỉ có trí nhớ của chúng ta về nó là suy tàn. Cảm giác mất mát là một ảo giác, nhưng nỗi buồn nó gây ra thì thật. Và điều này cũng thật: không có gì buồn hơn khi chúng ta không làm gì được để ngăn chận một trí nhớ tàn phai. Người ta không thể tự hứa sẽ không bao giờ quên, vì điều này cũng khó như xin trời cho tôi đừng bao giờ chết.

Mười ba cách nhìn áo trắng

Cuối hè, tôi viết xuống một câu để làm đề tài để chụp ảnh, hôm nay đọc lại thấy: Mười ba cách nhìn màu trắng -- được viết theo tựa một bài thơ* có lẽ nằm trong số những bài thơ hay nhất từng được viết ra.

[*Thirteen Ways Of Looking At A Blackbird của Wallace Stevens]

Chụp được một số ảnh, tôi gửi cho hai người bạn nhờ xem có được không. Gửi ảnh đi rồi, tôi hồi họp quá sức. Trong lúc ngồi chờ, tôi nhận ra mình đã bị điên rồi. Vì sao lại chọn một đề tài ai nghe thấy cũng biết ngay là không-cách-gì-làm-được? Sự dã man nhất của các nghệ sĩ lớn là họ đã làm ra cái gì rồi thì chúng ta đến gần là chết.

Tôi xoá gần hết ảnh và nói với hai bạn kia đừng kể với ai là tôi có lần bị điên như thế. Nghĩ lại những ngày nhìn hoa trắng từ gần và từ xa, từ độ nghiêng này và độ nghiêng khác, nhìn và không nhìn, tôi thấy nhớ. Bỏ dự án thì không còn được ngồi thật im đưa mắt đi theo đường viền buồn bã và lênh đênh của các cánh hoa nữa hay sao? Ừ, không còn được làm vậy nữa. Nếu không chụp ảnh thì không còn lý do. Không ai cứ ngồi đó mà nhìn xem cái đường viền này của cánh hoa nó rơi vào khoảng không nào, nhìn chẳng để làm gì. Sống không nên sến thế.

Dự án bị bỏ rơi vì đã được nghĩ ra trong lúc điên. Bâng khuâng gì, đời còn bao nhiêu thứ cực nhọc hơn, có thứ tưởng như quan trọng hơn mạng sống của mình, làm không xong thì bỏ xác. Vậy mà rồi có khi mới qua năm sau nó chỉ còn là một chút hơi nước trong ký ức, còn mình thì không khác đi nhiều lắm dù nó đã thành công hay thất bại.

Dù sao cuối hè qua lúc nhìn những cánh hoa - nhìn lâu vì lúc đó được phép làm như vậy - tôi đã hiểu vì sao người ta sợ hoa tàn: Các cánh hoa luôn ôm lấy một cái gì bên trong. Cái gì? Thôi không biết và cũng chẳng cần biết. Nhưng đến lúc hoa tàn thì không thể không thấy là hoa rơi đi từng cánh một mà không để lộ ra cái gì bên trong cả, trống không, không có gì. Dường như cái chết là có thật.

Còn việc hồn của hoa hay của người không ở bên trong mà ở giữa cái này và cái kia nào đó thì không ai nghĩ ra hết.

Tóc trắng mười ba

Một tối tôi nằm mơ thấy mình đi xe đạp. Con đường dài lắm và tôi thật là già, tóc trắng xoá. Chẳng hiểu vì sao tôi biết bà già tóc trắng bay lất phất đó là tôi. Tôi không nhớ mặt mày tôi trong giấc mơ, chắc vì mình không thấy được chính mình, nhưng tôi nhớ những sợi tóc và bàn tay trăm năm cô đơn của một người già, của tôi.  Già nhưng hoàn toàn sung sướng, đạp xe chạy phom phom như năm tôi mười ba, ở quê. Lâu lắm rồi tôi không nghĩ gì về thời ở quê, sao hôm nay lại nhớ. Chỉ vì chiếc xe đạp của bà già trong mơ. Mười ba tuổi đi xe đạp lần đầu cũng sướng như biết bay lần đầu vậy. 

Trong giấc mơ ấy tôi là một người sung sướng. Tôi già và hiểu hết mọi chuyện. Cuộc đời, tôi vẫn nghĩ, là do vô số những ngày nọ ngày kia lê thê và lộn xộn cộng lại, không có ý nghĩa gì mấy. Nhưng bà già trong mơ đã sống qua tất cả những ngày của đời tôi và cuối cùng hiểu ra điều gì đó. Hình như mình sống bao nhiêu ngày thì cũng như một ngày. Trong mơ đó là cái ngày tôi đã sống hết đời chợt mang thân thể con gái mười ba cò ma đi xe đạp trên con đường quê. Hai bên là cỏ đã trổ cờ cao lêu khêu. Trên trời là mây trắng. Giữa đường là mình. Đạp xe như bay. Một ngày biết bay thì suốt đời biết bay.

Trong mơ hạnh phúc tự nhiên và trong vắt. Trong mơ tôi biết nó là cái gì. Nhưng khi thức dậy thì đầu tôi lan man lẩn quẩn, chuyện nọ chuyện kia, tôi làm mất điều mà tôi biết. Tôi càng cố nghĩ thật lung về nó tôi càng mất nó. Nó nằm dưới đáy sông, còn đầu óc tôi là nước sông: càng suy nghĩ thì nước càng đục. Nước sông đục làm tôi nghi ngờ không biết cái điều nằm dưới đáy sông nó có thực hay không. Buồn cười thật. Người ta suy nghĩ để mà biết, cuối cùng chỉ biết những suy nghĩ của mình nó như thế nào, còn điều mình muốn biết thì lại bị những suy nghĩ che lấp. Càng nhiều suy nghĩ thì cái mình tìm nó càng bóng chim tăm cá.

Lúc tôi thức giấc là ba giờ sáng. Tôi nằm trên giường một tiếng. Bốn giờ tôi ngồi dậy, đánh răng, gói ghém rồi dắt xe đạp ra đi. Từ nay tôi không còn cần biết mình đi đâu. Chiếc xe đạp là căn nhà, là cuộc đời của tôi. Tôi đi tìm bà già tóc trắng trong mơ. Một ngày nào đó, tôi sẽ tìm thấy bà ấy trong lúc đi xe đạp. Tôi biết vậy.

Nhưng có lẽ đến lúc tóc trắng hết và hai bàn tay như rễ cây thì tôi mới hiểu ra một cái gì đó. Giữa năm mười ba và năm một trăm tuổi thì đời buồn và buồn. 

 

Bonn, 15.10.2004

 

No memory

Tối nay khi bạn nhìn thấy bông hoa này, à, không phải thế, khi bạn nhìn thấy bức ảnh tôi chụp bông hoa này, thì nó không còn đó nữa. Nó đã tàn rồi, đã tả tơi tan nát, nửa là sự mục rửa nửa là tro bụi không ai muốn giữ trong nhà hay ngay cả trong tâm tưởng. Nó không còn hình thù nói gì tên tuổi. Bức ảnh này chỉ là một thời khắc rất ngắn của một ký ức không người mang. Vào một sát na nào đó bông hoa này đã như thế, thật sự như thế, những đường gân này, cái đài hoa mỏng manh này, độ trong và độ mỏng này, những cánh hoa đã để vừa đủ bao nhiêu ánh sáng rơi xuống nó. Nó đã chính xác như thế và không khác một chút nào. Nhưng để làm gì vậy? Vài phút sau nó đã khác, vài giờ sau nó đã bắt đầu héo hơn, ngày hôm sau, nó đã cúi thấp xuống, đường cong của cành hoa đã là đường cong của sự tàn tạ. Và bây giờ không còn ai biết bông hoa ra sao và cũng không ai màng. Thế giới không có Chúa, không có thiên thần hay ngay cả một con người nào đủ lòng dạ để thương nhớ nó. Tình yêu là thứ bạc bẽo nhất. Tôi biết vậy, nên tôi đã chụp ảnh nó với ít tình yêu nhất có thể. Bức ảnh trông giống như trong một quyển sách sinh học, chỉ để mô tả một hình ảnh vật chất. Bông hoa và người nhìn đều không có đó, không có tâm hồn, không có cái đẹp, không có tình yêu, không có ký ức, không có tiếc nuối.

Rồi sao nữa? Tại sao tôi đã chụp bức ảnh này? Và sao nữa?


Mây bay ngang

Từ cửa sổ tầng trên của căn nhà mới đến ở, tôi có thể nhìn thấy ngọn Liang Biang (nếu núi không bị mây che, mà trời Đà Lạt mà tôi biết cho đến hôm nay, luôn luôn nhiều mây). Liang Biang là ngọn núi cao nhất cao nguyên Lâm Đồng.

Núi im và kiên nhẫn: nếu mặt hồ làm cho tâm bạn lặng thì núi làm cho tâm bạn yên, và lặng với yên là hai điều khác nhau, khác nhau như hồ với núi. Suốt ngày, (có thể nào suốt năm?) mây phủ chóp núi, và mưa nữa. Bóng của mây, và mưa hoặc là hơi nước làm cho núi có màu xám, xám như không có chuyện gì để kể, xám như nghìn năm đời vẫn vậy, không có thời gian, không có thay đổi. Không có lời nào để nói về cuộc đời, ừ, làm gì có cuộc đời nào để nói về.

Nhưng thật ra núi không hẳn không có việc gì để làm. Núi đứng đó, để mây biết mình bay. Đám mây dù bất động nhất vào một ngày im gió nhất, nó vẫn bay, nếu mắt bạn lấy núi làm mốc. Mây bay vì mây là mây, vì mây nhẹ hơn không khí, vì mây không có quê hương.

- Đố em Đà lạt nhiều gì nhất?
- Nhiều thông? Nhiều hoa? Nhiều mứt dâu?
- Không, Đà lạt nhiều mây bay ngang nhất.
- Nhưng mây ở đâu cũng có mà?
- Ừ, nhưng Đà lạt vẫn không nhiều thông, (hoặc là hoa, hoặc là mứt dâu), như là mây bay ngang.

Từ mười ngày rồi, tôi đã trở thành người Đà lạt. Sau mười ngày, tôi học đã biết chỗ mua rau và trái bơ từ vườn người nhà quê chứ không phải từ nông trường trồng để bán về thành phố, biết quán mì ngon nhất, đối diện một lò bánh mì cũng ngon, nhưng chưa phải là nhất; biết đường đến chợ cá buổi chiều, chừng ba giờ xe cá từ Phan Rang lên tới. (Những thứ đầu tiên người ta học khi mới đến một nơi nào đều liên quan đến chuyện ăn uống). Tôi cũng biết chỗ ngồi ở hai quán cà phê nhìn xuống thung lũng rộng, đẹp như tranh. Nhưng thật ra, ở bên ngoài đẹp như tranh không phải là điều tôi thật sự mong từ một quán cà phê. Cái quán có những thứ tôi mong, thì vẫn chưa tìm ra.

Ngoài ra có một chuyến đi đến một cái thôn trong núi mà nếu nói tên ra cũng không ai biết. Nhưng đó là câu chuyện để dành kể vào một hôm khác. Bầu trời ở thôn đó, vào ngày hôm đó, cũng rất nhiều mây bay ngang.

IMG_1475.JPG

Sáng thứ tư

Tôi không thể được nhìn thấy. Tôi mà bạn nhận ra, nó chập chờn, huyễn hoặc. Nếu có một tôi thật, an định, nó yên lặng, nó nhìn ra ngoài từ bên trong và không thể được nhìn thấy từ bên ngoài. Người ta yêu nhau dựa trên ý niệm có về nhau, thường bất an vì ý niệm là những đám mây luôn trôi nổi và biến đổi. Nếu bạn yêu Phật qua những gì bạn thấy ở Phật, tình yêu đó rồi sẽ mất. Bạn chỉ thật yêu phật khi bạn trở thành phật.

 

Thành phố lạ

Có một lần, tôi đến một thành phố lạ. Ở cái khách sạn nhỏ có vài người biết nói chút ít tiếng Anh, giống tôi, và nếu hết xà phòng hay cần một cái khăn, tôi có thể nói cho họ biết được. Nhưng khi bước ra đường, thì tôi hoàn toàn không có cách gì để hỏi đường hay nói chuyện với một ai. Tôi cũng không có một cái máy ảnh mang theo người, để ít ra mọi người có lý do để nhìn tôi và gửi tặng một nụ cười mà chiếc máy ảnh sẽ lưu lại. Tôi đi lẫn vào mọi người, vào chợ của họ, ăn trong những cái quán nhỏ nơi tôi không biết tên thức ăn mà gọi… tôi vừa ở trong thành phố đó vừa không ở trong đó vì tôi không hòa vào câu chuyện của mọi người trong đó được. Đó là một cảm giác khó tả, và tôi thích nó hơn là không thích. Có lẽ tôi nhìn thấy nhiều hơn, vì không còn chút bận tâm nào về ngôn ngữ. Khi không có lời để nói và nghe, ngôn ngữ bị tắt đi, thì tôi cũng không bận tâm về ý nghĩa, về lý lẽ. Tôi chỉ ở đó, và lang thang, nhìn cái này cái nọ, và cảm thấy một chút cô đơn nữa. Trong hai tuần ở đó, hình như tôi cũng ít hay nhiều ở bên ngoài lịch sử của chính tôi. Giống như là tôi đi vắng với chính mình, tôi ở một nơi mà con người thường ngày của tôi không biết, không tìm ra tôi để đòi hỏi này nọ. Rồi tôi về lại thành phố của mình. Một năm sau, khi cảm thấy cô đơn, như hôm nay, tôi lại muốn đi đến một thành phố nơi tôi không hiểu ngôn ngữ của họ và họ không hiểu ngôn ngữ của tôi, cũng không hiểu ngôn ngữ thứ ba, là tiếng Anh. Tôi thích cảm giác lạc loài ở một nơi như vậy hơn là lạc loài ở ngay chính thành phố của mình. Sự lạc loài ở một thành phố lạ là sự lạc loài ở bên ngoài, còn ở thành phố của mình nó ở bên trong. Ở đây, ngồi nói chuyện với bạn bè, mắt nhìn những gương mặt bạn bè, nhưng mắt đã focus ở một nơi nào khác, không một nơi nào cả. Ở đây, ngồi chung bàn với những người tưởng quen mà lạ, nghĩa là không có hy vọng gì người ta còn biết nhau. Ở một thành phố lạ, khi cô đơn, tôi nhớ là tôi có ngày được về nhà. Ở đây thì không.

Sài Gòn và Hà Nội khác một ngày cách đây 10 năm. Khác, cuối cùng, có lẽ chỉ ở một điểm thôi. Xưa người ta có nhiều giấc mơ. Và vì có nhiều giấc mơ, họ có những giấc mơ chung. Nay, những giấc mơ đã tan mất đi nhiều, chỉ còn lại ít ỏi những giấc mơ mơ một mình. Nay người ta sống nhiều mục đích và ít giấc mơ. Đường đi đến mục đích là những con đường ngắn, rõ ràng, và điều đạt được thì cụ thể. Khi đã có mục đích rồi, người ta không còn gì phải lang thang tìm kiếm. Con đường đi theo một giấc mơ thì bất định và dài, vì chân trời của những giấc mơ luôn luôn rộng. Người ta thường tự hỏi mình đang ở nơi nào, đường còn bao xa. Người ta còn tìm kiếm, và khi tìm, người ta nhận ra những người bạn. Đường đi rộng, đủ chỗ để người ta chia nó với kẻ đồng hành. Và đủ dài, để người ta còn thì giờ nhìn nhau, những ánh mắt nhìn không bị sự thờ ơ làm mất nét.

 

Từ chối

Xe tôi ghé vào trạm đổ xăng, một buổi sáng giữa phố đông. Xe máy và xe hơi nối nhau chờ đến lượt mình, ai cũng tất bật, ai cũng nóng nảy. Tôi nhìn xuyên qua những người mua xăng, thấy một cậu bé đứng đó, tay cầm một xấp vé số, cậu chừng 8, 9 tuổi. Vì ai cũng bận rộn, không ai nhìn thấy cậu, và cậu đang tìm một ai đó nhìn thấy mình, để cậu mời vé số. Tôi không thích việc người ta đi bán vé số ở ngoài đường. Tôi nghĩ đó là một hệ thống ăn xin có tổ chức rộng lớn và rất bất công, vì người thực hiện phần khó khăn nhất chỉ được hưởng một phần rất nhỏ. Vài người bạn tôi nói dù sao nó cũng giúp được nhiều người nghèo, nó giúp người ta kiếm tiền ở ngoài đường mà không phải là xin ăn. Vậy thì nó là một cái gì lưng chừng: người bán vé số giữ được danh dự của họ, ngược lại, họ chỉ được giữ lại một phần nhỏ số tiền họ kiếm hoặc là xin được.

Gương mặt cậu bé buồn bã vì người đông như vậy mà không ai nhìn cậu. Đầu cậu hơi cuối. Chợt cậu ngước lên và nhìn thấy ánh mắt của tôi. Trong một khoảnh khắc tôi nhìn thấy mắt cậu có ánh sáng, có niềm hy vọng, gần như là hân hoan. Cậu hy vọng tôi sẽ mua vé số của cậu, và hy vọng như vậy có gì là sai đâu. Nhưng mà tôi sẽ lắc đầu. Cậu nhìn tôi với một chút cầu khẩn, cậu giơ sấp vé số lên mời, miệng cậu hé một nụ cười, dẫu mong manh, đó là một nụ cười thật. Cậu còn quá nhỏ, chưa biết làm sao để giả dối. Trước khi lắc đầu, tôi đã thấy ánh mắt tối lại, nụ cười tắt đi, cái đầu khẽ ngoảnh đi rồi cuối xuống vì thất vọng của cậu. Nỗi thất vọng chỉ nhỏ, chỉ là một chút bóng tối làm cho mắt cậu mỗi ngày một ít long lanh hơn. Mỗi ngày cậu nhận được bao nhiêu cái lắc đầu, và bao nhiêu bóng tối thì đủ cho cậu không còn lại một chút tin yêu nào dành cho con người, chỉ còn lại sự ê chề, rồi chai đá. Tại sao lại ném cậu vào cái thế giới mà mỗi ngày những gương mặt người dần tan biến đi, chỉ có những cái lắc đầu là còn lại mãi.

 

Lắng nghe tiếng mưa

Trong vũ trụ, quê hương rộng lớn của chúng ta, một giọt nước cũng không thể mất đi. Thế nên nỗi buồn của em cũng không thể mất đi. Đêm qua em kể chuyện của em như thế này:

Em đã từng là trộm cướp. Những năm ấy em nhảy lên xe lửa chở hàng lúc xe đang chạy, còn chậm vì vừa rời ga. Em cắt giây ràng, ném các bao hàng xuống đất. Đồng bọn em chờ sẵn, vác các bao ấy chạy đi. Chúng nó đã bỏ sẵn gạch đá trong túi, ai trông thấy rượt theo thì lấy đá ném.

Không, câu chuyện của em bắt đầu trước những năm trộm cướp đó.

Năm ấy em 16 tuổi, là anh cả trong một gia đình đông anh em. Cha em bệnh, nằm một chỗ. Hồi cách mạng vào, gia đình em bị đánh tư sản, lại kiếm đường làm ăn, lại bị đánh, tổng cộng là năm lần. Tới lúc ấy thì gia đình em kiệt quệ, nghèo không có gì ăn. Trong lúc đang khổ như vậy, mẹ lại bị ung thư, thời ấy không biết làm sao chữa. Em 16 tuổi đầu phải bương chải kiếm cơm, bao cực khổ ê chề. Mẹ em nói với em, cha mày đã nằm đó cho các con nuôi, bây giờ thêm mẹ nữa, làm sao gia đình vượt qua được. Mẹ em nhờ em đi mua thuốc ngủ, người ta không chịu bán một lúc nhiều cho đâu, phải mua mỗi nơi vài viên, dồn lại làm sao uống đủ chết. Em mang thuốc về. Em khóc. Mẹ em nói mẹ hứa sẽ không uống những viên thuốc đó, chỉ mua để sẵn bên người cho an tâm thôi, ngày nào mẹ không chịu nỗi cơn đau đớn.

Nhưng rồi đêm hôm ấy cũng đến. Lúc 11 giờ, mẹ uống thuốc, không nói cho ai biết. Thường thì người ta uống thuốc ngủ rồi thì ngủ luôn không dậy nữa. Không biết sao mẹ ngủ, đến 12 giờ mẹ lại tỉnh. Mẹ gọi em vào, dặn dò chuyện nhà, rồi mới chết.

Một giọt nước cũng không mất đi được. Trong cuộc đời dài còn lại, từ hôm đó và mãi mãi về sao, em làm sao, làm sao cho nỗi buồn đó chưa bao giờ xảy ra bây giờ.

Giọt nước không mất đi được, nhưng nó có thể chuyển hóa. Một giọt nước mắt có thể rơi xuống thành mây, mây có thể ở trên ngàn hay bay qua đại dương. Nỗi buồn của em không thể mất, nhưng nó có thể thành một giọt mưa, phải không?

Điều đó chỉ có một mình em biết. Em biết rồi, cũng không thể nói cho tôi nghe.

Có khi mưa rơi vào ban đêm. Từ ngày biết chuyện của em, tôi lắng nghe mưa kỹ càng hơn, nếu tôi tình cờ thức giấc.

 

Đêm qua mới thực là đêm

Tối hôm qua, tôi giã gừng nấu một nồi nước xông nhỏ, vì tôi không thở được. Nồi nước đặt ở trên giường. Tôi phủ khăn qua đầu. Lúc tôi cúi xuống để hé nắp nồi cho hơi nước gừng nóng bay lên, tôi lại nghe thấy nỗi buồn khổ dâng lên ngang ngực, một chút gì nghẹn trong cổ, như thể nỗi khổ có thể chất, nó như một đám khói quyện đặc lại, vướng lại làm tôi nghẹn ngào. Tôi hít vào, nghe hơi nước xông nóng đi qua mũi, đi ngang qua nỗi khổ mà vào ngực mình. Tôi nghĩ, nếu nỗi khổ là một đám khói, sao mình không cuộn nó lại rồi lấy gì đó hút nó, đuổi ra ngoài, khỏi ngực, khỏi cổ họng của mình. Nhưng tôi biết nỗi khổ không phải là một đám khói, nó chỉ là một cảm giác, như những cảm giác khác. Tôi tự hỏi sẽ ra sao, nếu trời sinh chúng ta ra mà không sinh ra cảm giác đó. Đời sẽ dễ chịu bao nhiêu. Vì sao trời cho ta cảm giác này và trời ơi làm sao đuổi nó đi.

Khuya hơn, tôi ngồi thật im, để cho mọi thứ lắng xuống. Tôi chợt hiểu rằng không ai có thể đuổi nỗi khổ ra khỏi lồng ngực, nhưng người ta có thể ngừng đọng, biến lồng ngực mình thành một khoảnh trời, trống và yên lặng và mông mênh, để cho nỗi khổ loang ra trong đó chứ không nén lại. Nếu ngực tôi đủ rộng và tôi bất động, tôi sẽ có đủ không gian để dung chứa và đưa nỗi buồn khổ vào thinh không.

Ít nhất là trong đêm qua.

 

Thấp thoáng

Có lúc tôi từng sợ mình sống đến hết đời chưa làm được cái gì đẹp. Tôi cũng thường nghĩ cái đẹp hoàn hảo đã làm xong rồi (ví dụ như bài piano concerto số 1 của Brahms), thời chúng ta còn bao giờ có ai có thể làm ra được thứ gì đẹp hơn mà hoài công. Bây giờ tôi bắt đầu hiểu rằng Brahms viết nhạc không tạo ra cái đẹp (to create beauty) mà để hé lộ nó ra (to unveil beauty). Cái đẹp tràn lan và toàn vẹn, và giống như sự thật, nó chỉ có một. Những người nghệ sĩ chỉ mở những cánh cửa khác nhau, từ chỗ họ ngồi và góc họ nhìn, để chúng ta trong khoảnh khắc nương nhờ đôi mắt và trái tim của họ mà nhìn thấy, chạm vào, thường chỉ trong một thoáng, một thiên đường duy nhất đã luôn ở đó tự nghìn xưa. Chưa có một giây nào thiên đường đó đã từng không tồn tại.

 

All you need is love

Anh cứ hát mãi cái câu duy nhất của Beatles (duy nhất vì người ta chỉ cần biết câu ấy là đủ, chẳng cần gì thêm): All You Need Is Love. Suốt đời chúng ta đi tìm tình yêu, rồi buồn, không phải là không có gì để yêu, mà vì yêu quá nhiều người, nhiều thứ, nhiều nơi chốn, nhiều khoảnh khắc, nhiều câu chuyện. Yêu nhiều nhưng sao cái cảm giác thiếu nhau vẫn vương vất mãi. Chúng ta mong ước hội ngộ, tưởng tượng được ngồi với nhau một buổi thì sẽ thôi cô độc. Nhưng khi gặp nhau, mọi người nói rất nhiều, và chẳng nói được với nhau gì mấy. Cảm giác khát khao vẫn luôn quanh đây. Khi ra về, điều còn lại là một lỗ trống, một chút băng không chịu tan nơi vách của trái tim. Chúng ta yên lặng khi ngồi trước mặt nhau, và yên lặng khi trở về với căn phòng của riêng mình. Tôi lên mạng, viết một câu nhỏ nhoi gửi đi vào cyberspace: “Hôm nay buồn quá”, rồi cảm thấy nói câu đó không với ai cả dễ hơn nói với người mình yêu nhất. Với những người mình yêu, chỉ có sự yên lặng. Nỗi cô đơn lâu ngày thành bạn thân, đằm thắm đến nỗi kỷ niệm tôi yêu mến nhất trong một năm nay không phải là những ngày hay đêm vui chơi với các tình yêu, mà là một đêm ngồi chèo queo trên một chuyến xe đò vắng hiu từ miền Trung với một cái iPod bị hết pin (vì iPod luôn luôn bị hết pin khi mình cần nó nhất). Tôi nhìn ra cửa sổ, những vách núi mờ tối, bóng những cây rừng đến gần rồi đi xa, dường như bất động, dường như mênh mang như chưa bao giờ gắn bó với mặt đất, và tôi nghĩ, tất cả những chuyến đi của tôi từ nay về sau sẽ luôn luôn cô đơn, buồn bã và bất định như thế này, và tim tôi chợt buốt lại như chưa bao giờ nó buốt như thế.

Và tôi lại đi tìm tình yêu, bởi vì all you need is love, tôi cần, không biết bao nhiêu thì đủ, trong khi tôi đã trót yêu quá nhiều thứ, đến nỗi tình yêu đã tràn ra khỏi lồng ngực, chảy lan đi mọi phía. Ôi những tình yêu không có hội ngộ, không có lời lẽ nào, không có con nhện nào giăng tơ nhốt những trái tim lại thôi đừng đi xa nữa. Không ai nói với ai: Hãy ở lại đây đêm nay, ít nhất là đêm nay.

 

Stars, hide your fires

Stars, hide your fires.
Let not light see my black and deep desires.
(Macbeth)

Không phải tâm lý là tất cả. Đừng nghĩ anh có thể dùng tâm lý để giải thích cho mọi nhân cách và hành động của mọi nhân vật, trong truyện hay ngoài đời. Khi đọc truyện hay xem phim, cũng đừng lấy đó làm thước đo, cho rằng một nhân vật chỉ đáng tin khi tác diễn giải được tâm lý nhân vật ấy một cách thuyết phục.

Hãy chấp nhận rằng chúng ta không hiểu tâm lý của Macbeth. Shakespeare không gắng thuyết phục ta rằng Macbeth bị sự ham muốn quyền lực làm mờ cả tim lẫn mắt; chúng ta không thấy sự phản trắc là điều tất yếu. (Tolstoy từng nói rằng Macbeth không có động lực để giết vua). Nhưng không những chấp nhận câu chuyện được kể, chúng ta còn thấy Macbeth là một nhân vật thật hơn sự thật. Sự thật về con người được nối sâu, nới rộng khi chiếc cổng ngăn giữa sự có thể và không thể biết được được mở ra. Ở vùng biên giới, ở nơi địa đầu đó bóng tối nhiều hơn ánh sáng. Câu chuyện của Macbeth nằm ở nơi ấy: mịt mùng, đầy hoài nghi và hoang mang.

Mâu thuẫn là đây: chúng ta tìm thấy mình trong vùng tranh tối tranh sáng nhiều hơn ngoài nắng trời chói lóa.

 

Đò dọc, đò ngang

Có lần về quê xưa Quảng Nam, chúng tôi đi đò qua sông. Hai chị em chèo chống một con đò ngang. Giá thu mỗi người mỗi lần qua đò là 300 đồng. Vì tiền giấy 100 đồng không còn dùng, nên việc thu 300 đồng hơi phức tạp một chút: bạn trả 500, sẽ được thối lại 200 đồng. Nếu bạn có 2 tờ 200, đưa cô lái đò thì cô đành nợ lại bạn 100, lần sau đi sẽ trừ, chứ cô không thối tiền lại được.

Tôi hỏi cô sao cô không lấy giá đi đò là 400 đồng, cô chỉ cười không trả lời. Tôi hỏi cô tôi: Nếu chị em cô đưa đò lấy giá 400 đồng, thì vẫn còn rẻ, đâu có ai tiếc 100 đồng mà không đi. Với lại, cả khúc sông dài chỉ có một con đò ngang, đâu có ai cạnh tranh đâu. Cô tôi trả lời như thế này:

Những nhà khác có đò, lớn cũng bằng đò của nhà chị em cô đó, cũng do hai người chèo chống, họ nhận chuyên chở thứ này thứ nọ, gạch, lá lợp nhà, rau trái, gà vịt cho người đi chợ, hoặc than, củi, vân vân. Trung bình mỗi ngày họ kiếm được 60 ngàn.

Hai chị em cô gái nọ, mỗi ngày đưa chừng 200 khách qua sông, 300 một người, cũng kiếm được 60 ngàn. Con số này ít có tăng giảm bất ngờ, vì ngày nào cũng có từng ấy người có việc qua sông.

Nếu cô lái đò tăng giá 400 một người, sẽ kiếm được 80 ngàn một ngày. Một nhà khác có đò thấy vậy, sẽ không đi đò dọc chở hàng thuê nữa mà sẽ đi đò ngang. Số khách chia đôi, mỗi nhà sẽ chỉ còn 40 ngàn. Vậy là cả hai nhà sẽ bỏ đò ngang đi đò dọc, và dân làng không còn đò để sang sông.

Vì vậy, tiền đò 300 đồng là một con số không thể khác được.

 

Love

-  Khi nhìn thấy một người đàn bà bị ném đá ngoài đường, em có thể thấy giận dữ, buồn và lo lắng. Điều đó có thể xảy ra với bất cứ ai, nghĩa là có thể xảy ra với em nữa. Em tuyệt vọng tìm cách ngăn chận sự oan khiên mà người đàn bà nhận lấy. Em cảm thấy nơi mình sống thật bất an vì người ta ném đá đồng loại. Em thấy em chính là người đàn bà ấy.

Cũng có thể em thấy phấn khích và em nhìn quanh tìm một viên đá để dự phần vào việc hành tội người đàn bà không quen. Bởi vì em tin rằng tội lỗi (hẳn người đàn bà phải có tội gì đó thì người ta mới trói chị ấy lại) cần được trừng phạt và xã hội cần duy trì những qui luật của nó, nếu không thì sự khôn lường của con người sẽ làm cho nó đổ vỡ. Ném vào người đàn bà hòn đá bằng chính bàn tay mình, em xác nhận chỗ đứng an toàn của em ở phía những người canh gác cho cái trật tự đã được thiết lập từ lâu. Em không còn phải lo lắng.

Đó là hai chọn lựa của em.

- Nơi thầy sinh ra, người ta chọn một trong hai. Nhưng ở đây, còn một chọn lựa thứ ba nữa. Đó là sự dửng dưng. Thầy đã từng thấy chưa? Cảnh người ta bu lại xem một vụ ném đá, dửng dưng xem, hết gì hay thì dửng dưng bỏ đi. Đường phố không còn là cuộc đời, mà là một màn ảnh cho họ giải trí. Họ không ở bên trong cuộc đời. Thầy đã từng đi qua một con đường đông mà không thấy ai bao giờ chưa? Vì ai cũng ở một nơi nào khác bên ngoài.